Những dấu ấn nổi bật của Hội KHHGĐ Việt Nam sau 25 năm ra đời và phát triển

P.V  - Thứ năm, 11/01/2018, 06:30 AM
Nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập Hội KHHGĐ Việt Nam, báo Gia đình Việt Nam điểm lại những dấu ấn nổi bật của Hội ở tuổi 25.

1. Ngày 11/1/1993 Hội KHHGĐ Việt Nam (VINAFPA) được Chính phủ cho phép thành lập trong bối cảnh công tác Dân số - KHHGĐ trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của quốc gia, đòi hỏi phải có những tổ chức "tiên phong" hoạt động. Do đó Hội KHHGĐ Việt Nam thành lập và là tổ chức Xã hội - Nghề nghiệp Quốc gia về Dân số/ Sức khoẻ sinh sản/ Kế hoạch hoá gia đình (DS/SKSS/KHHGĐ) ở Việt Nam.

BCH khoa I

Hội nghị BCH Trung ương mở rộng của Hội KHHGĐ Việt Nam năm 1997

Trong nhiệm kỳ 1993- 1999, Trung ương Hội đã khẩn trương phối hợp với các địa phương thành lập 35 tổ chức Hội tại 35 tỉnh/thành phố và cơ sở với trên 8.000 hội viên và mạng lưới Tuyên truyền viên trên 1.100 người. Liên tục tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực cho cán bộ các cấp Hội và Tuyên truyền viên cơ sở. Thí điểm triển khai và nhân rộng 2 mô hình truyền thông hướng tới cộng đồng đó là Đôi TTV cơ sở và CLB SKSS. Triển khai Mô hình Đội dịch vụ lưu động và cung cấp phương tiện tránh thai (PTTT) tại cộng đồng.

Tổ chức cung cấp gần 1,7 triệu dịch vụ SKSS/KHHGĐ đến cộng đồng. Phân phối 6,6 triệu bao cao su trong Chương trình Quốc gia DS-KHHGĐ. Nguộn kinh phí chủ yếu  là vận động và tiếp nhận nguồn viện trợ quan trọng nhất từ IPPF để triển khai các hoạt động trong quá trình xây dựng và phát triển Hội.

Ngày 05/10/1995 thành lập cơ quan truyền thông, phát hành số báo đầu tiên của Bản tin/Tạp chí Gia đình (nay là Báo gia đình Việt Nam).

2. Giai đoạn củng cố và phát triển (1999 - 2009)

BCH khoa II

Nhiệm kỳ II: 1999-2004. Sau Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) năm 1994 tại Ai Cập và các định hướng Chương trình quốc gia, Hội đã chủ động triển khai 5 chiến lược hoạt động gồm 5 nội dung: Chuyển dịch vụ KHHGĐ sang chăm SKSS toàn diện; Chú trọng đối tượng vị thành niên-thanh niên; Tăng cường công tác truyền thông vận động; Nâng cao năng lực quản lý, điều hành và giám sát đánh giá;Củng cố, hoàn thiện công tác tổ chức, phát triển Hội. Và đã thu được khá nhiều kết quả nổi bật như: Phát triển mạng lưới tổ chức Hội từ 35 tỉnh (Nhiệm kỳ I) lên 48 tỉnh/thành Hội; Số hội viên tăng tương ứng từ trên 8.000 lên 107.000 Hội viên. Triển khai các mô hình truyền thông đậm nét VINAFPA như : Câu lạc bộ “Vì sự tiến bộ của phụ nữ”; CLB “Phòng chống HIV/AIDS trong gái mại dâm”; Các Câu lạc bộ “Đồng đẳng VTN-TN tự nguyện phòng chống HIV/AIDS” “VTN-TN với SKSS”.

Triển khai Mô hình truyền thông “Lấy giáo dục là Vaxin duy nhất hiện có để phòng chống HIV/AIDS trong VTN/TN” do Hội KHHGĐ Hàn Quốc hỗ trợ.

Triển khai Mô hình Đội dịch vụ Lưu động và phân phối PTTT đến khách hàng; Cung cấp trên 3,5 triệu dịch vụ SKSS/KHHGĐ và phân phối gần 5 triệu phương tiện tránh thai tại cộng đồng. Đẩy mạnh công tác truyền thông, tư vấn và cung cấp dịch vụ cho 11 tỉnh Hội dự án. Nâng cao năng lực quản lý, điều hành cho cán bộ Hội các cấp. Xây dựng và triển khai nhiều mô hình can thiệt cho VTN-TN và vùng khó khăn như: Đội Giáo dục viên đồng đẳng; Góc dịch vụ thân thiện; Đăng ký kết hôn lồng ghép với tư vấn SKSS/ SKTD/ KHHGĐ…

BCH khoa III

Nhiệm kỳ III: 2004-2009. Trong nhiệm kỳ này Hội phê duyệt, triển khai Kế hoạch Chiến lược (KHCL) đầu tiên giai đoạn 2004-2010 với 7 ưu tiên trong KHCL 2004-2010: Vận động chính sách xã hội;Vị thành niên, thanh niên; HIV/AIDS; Tiếp cận; Phá thai an toàn; Làm mẹ an toàn; Duy trì củng cố mạng lưới Hội tại mạng lưới 49 tỉnh/thành phố; Phát triển số Hội viên lên 142.000 người. Các ưu tiên về tiếp cận người dân, tiếp cận VTN-TN được tăng cường.  

Triển khai một số mô hình phù hợp và hiệu quả trong chương trình hoạt động của Hội như: Mô hình Tư vấn, kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân lồng ghép với trao giấy kết hôn; Mô hình “CLB Phòng chống HIV/AIDS trong công nhân”; Mô hình Đội giáo dục viên đồng đẳng... v.v. Đến năm 2009, đã có 16 Phòng khám đạt Chuẩn chất lượng chăm sóc (QOC) của IPPF;  Cung cấp dịch vụ cho trên 4,8 triệu lượt khách hàng, đạt trên 14,4 triệu dịch vụ. Mở rộng triển khai lưu động cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ đến cộng đồng. Triển khai phân phối 12,1 triệu sản phẩm TTXH (BCS, viên uống tránh thai...

3. Giai đoạn hội nhập, phát triển và thách thức mới (2010 - 2019)

Ở giai đoạn này, Hội tiếp tục củng cố tổ chức, đẩy mạnh hoạt động. Duy trì vị thế là thành viên đầy đủ (Full Member) của IPPF và công nhận lần thứ hai năm 2015. Phê duyệt và triển khai 2 Kế hoạch chiến lược giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020. Kế hoạch chiến lược giai đoạn 2011-2015 xác định 7 vấn đề ưu tiên:Truyền thông – Vận động xã hội.Vị thành niên – Thanh niên và các đối tượng thiệt thòi.

Phòng chống HIV/AIDS;Thực hiện phá thai an toàn;Tiếp cận toàn diện;Tham gia thực hiện những vấn đề mới trương Chương trình quốc gia; Củng cố, phát triển Hội theo các nguyên tắc, chuẩn đánh giá của IPPF.

BCH nhiem ky IV (2009-2014)

Kế hoạch chiến lược giai đoạn 2016-2020 của Hội xác định 8 Giải pháp ưu tiên:Tăng cường, củng cố các cam kết về chính sách và thực hiện SKSS/SKTD và Quyền; Huy động sự tham gia của lãnh đạo phụ nữ và thanh niên trong việc ứng phó những thách thức, rào cản về SKSS/SKTD và Quyền và bình đẳng giới; Hỗ trợ VTN/TN tiếp cận giáo dục tình dục toàn diện (CSE) để thực hiện quyền SKSS/SKTD; Thu hút đồng thuận, thống nhất quan điểm, tổ chức truyền thông để thúc đẩy lựa chọn thực hiện SKSS/ SKTD và Quyền;  Cung cấp các Dịch vụ SKSS/SKTD và Quyền, bao gồm phá thai an toàn và phòng chống HIV; Triển khai liên kết dịch vụ với cơ sở y tế công, y tế tư nhân và đơn vị cung cấp PTTT; Nâng cao hiệu quả hoạt động để tăng nguồn thu của hệ thống Hội;Phát triển hệ thống tình nguyện viên (TNV) và các Nhà hoạt động tiêu biểu hỗ trợ công tác Hội.

Duy trì hoạt động của các mô hình: Tư vấn, kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân và trao giấy đăng ký kết hôn; Đội giáo dục viên đồng đẳng; CLB Cha và Con trai; CLB Mẹ và Con gái. -  Triển khai một số mô hình truyền thông mới: Mô hình Truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ SKSS/ KHHGĐ cho công nhân Khu Công nghiệp; Mô hình CLB giáo dục tình dục toàn diện (CSE) tại 16 tỉnh/ thành phố. Tổ chức trên 15.985 buổi truyền thông và cung cấp trên 3 triệu tài liệu truyền thông đến cộng đồng.

Ngày 22/04/2011, Bộ Thông tin Truyền thông cấp giấy phép hoạt động cho Báo Gia đình Việt Nam

Trong giai đoạn 2010 – 2018, kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ tăng mạnh, có những mô hình mới: Triển khai mô hình Phòng khám Thương hiệu “VINAFPA’s House”. Từ năm 2012-2017 đã triển khai toàn bộ 17 Phòng khám Thương hiệu tại tất cả 17 Phòng khám Hội.

Thí điểm mô hình Dịch vụ liên kết:Liên kết với các nhà phân phối PTTT; Liên kết với 7 PK nhà nước/tư nhân tại “Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Dương, Cần Thơ”. Thí điểm hoạt động Cung cấp dịch vụ cho Nhóm đối tượng thiệt thòi: Người di cư và công nhân khu công nghiệp;  dân tộc ít người có nguy cơ suy giảm dân số; nhóm đối tượng khó tiếp cận (Làng Trẻ em SOS Hà Nội/ Hải Phòng; Trung tâm Dạy nghề cho người khuyết tật Nghệ An; Trường Dân tộc nội trú Yên Bái...)

 Đẩy mạnh TTXH và Xã hội hóa cung cấp PTTT đến cộng đồng. Hội đã phân phối sản phẩm PTTT thứ 180 triệu, trở thành “Nhà phân phối TTXH” hàng đầu tại Việt Nam và trong hệ thống IPPF toàn cầu. Cung cấp dịch vụ cho 12,1 triệu lượt khách hàng.

IMG_8746

Đại hội đại biểu Hội KHHGĐ Việt Nam nhiệm kỳ 2014 - 2019

Năm 2012 và giai đoạn 2009-2012, VINAFPA được IPPF đánh giá cao kết quả xếp trong “Top 10” Hội Quốc gia thành viên đạt kết quả dịch vụ cao nhất trong hệ thống IPPF toàn cầu:Xếp thứ nhất về Tiếp thị xã hội; Xếp thứ 8 về Dịch vụ liên quan đến phá thai an toàn; Xếp thứ 10 về Dịch vụ chăm sóc SKSS;  Xếp thứ 12 về Dịch vụ cho VTN/TN; Xếp thứ 14 về Dịch vụ KHHGĐ...

Tiếp tục triển khai Dự án Luxembourg giai đoạn III với mục tiêu: Tiếp tục các nội dung Dự án giai đoạn trước. Tổ chức cung cấp phương tiện (xe ôtô) hỗ trợ hoạt động cung cấp dịch vụ lưu động cho 4 tỉnh/thành Hội: Quảng Ninh, Nghệ An, Thừa Thiên Huế và Cần Thơ.

 Trong nhiệm kỳ này, kết quả vận động nguồn lực của Hội là tiếp nhận và triển khai dự án do Chính phủ Hà Lan viện trợ thông qua IPPF bao gồm: Giai đoạn I – Dự án SALIN và Giai đoạn II – Dự án CHOICES với mục tiêu Dự án: Tăng số lượng thanh niên tiếp cận với gói dịch vụ thân thiện. Tăng cường tiếp cận giáo dục tình dục toàn diện (CSE). Thay đổi chính sách ưu tiên về SKSS/SKTD, nhu cầu của những người trẻ tuổi trong y tế quốc gia. Tiếp nhận và thực hiện Dự án Phá thai an toàn với Mục đích:

Giúp VTN-TN tiếp cận dịch vụ PTAT một cách thuận tiện, chất lượng và thân thiện. Tăng cường truyền thông, cung cấp thông tin, tư vấn và dịch vụ PTAT và phòng tránh thai ngoài ý muốn tại các phòng khám và các chuyến dịch vụ lưu động tại cộng đồng. Nâng cao tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ cho các phòng khám thông qua việc hỗ trợ PTTT, dụng cụ Y tế và đào tạo nâng cao kiến thức, kỹ năng PTAT cho cán bộ cung cấp dịch vụ.

Bình luận